Đang nạp trang. Vui lòng đợi giây lát!
[31-08-2017] - Thư cảm ơn Dịp Họp mặt kỷ niệm 40 năm thành lập Viện Nghiên cứu Mía đường | [18-07-2017] - ĐỀ CƯƠNG ÔN THI VIÊN CHỨC NĂM 2017 | [10-11-2016] - Thông báo v/v tổ chức lấy ý kiến rộng rãi đóng góp dự thảo “TCVN: Mía giống – Yêu cầu kỹ thuật” | [04-07-2014] - Viện Nghiên cứu Mía đường chính thức ra mắt Ngân hàng kiến thức trồng mía |
Xem TIN TỨC
Bản tin khoa học số 5 (tháng 4/2013)
Tuesday - 23-04-2013 | 12:55:46 AM

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ DINH DƯỠNG TỔNG HỢP TRÊN MÍA TƠ VÀ MÍA GỐC Ở BĂNG-LA-ĐÉT (Effects of Integrated Nutrient Management on Plant Crop and Successive First and Second Ratoon Crops of Sugarcane in Bangladesh)
S. M. Bokhtiar and K. Sakurai; Journal of Plant Nutrition, 30: 135–147, 2007.

Thí nghiệm đã được thực hiện với mục tiêu giảm khoảng cách năng suất của vụ tơ và các vụ gốc tiếp theo, đánh giá chất lượng nước mía, cũng như các tính chất của đất. Một thí nghiệm đồng ruộng 3 năm đã được thiết lập để đánh giá việc sử dụng các vật liệu hữu cơ và phân vô cơ trên mía tơ và mía gốc. Các vật liệu hữu cơ bao gồm bùn ép, phân chuồng (FYM), và phân xanh (GM) của muồng hoa vàng (Crotalaria juncea), các loại phân bón urê, supe lân (TSP), kali (MOP), thạch cao, và sulfat kẽm. Phân chuồng đã được bón 15 tấn/ha đi kèm với một loại phân bón hóa học (N178, P53, K54, S26, Zn2.6kg/ha), trong đó năng suất tương ứng của mía tơ, gốc 1 và gốc 2 là 108,4, 96,8, và 73,5 t/ha. Năng suất mía trong các gốc 1 và gốc 2 bằng 89,3 và 67,8% năng suất vụ tơ. Các thông số chất lượng nước như Brix., Pol và độ tinh khiết dần dần tăng lên trong các vụ gốc so với vụ tơ. Cacbon hữu cơ, N tổng số, và P và K hữu hiệu, hàm lượng S của đất tăng nhẹ do kết hợp các vật liệu hữu cơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy giảm 25% phân bón vô cơ đối với nghiệm thức FYM hoặc bã bùn ở 15 t/ha vụ tơ và thêm 50% N so với lượng phân bón khuyến cáo cho mía tơ cho thấy năng suất tốt hơn và cải thiện chất lượng nước mía trong các vụ gốc 1 và 2.

TẠO GIỐNG KHÁNG BỆNH THAN Ở ÚC (Breeding for sugarcane smut resistance in Australia and industry response: 2006–2011)
S.A. BHUIYAN, B.J. CROFT, M.C. COX; Proc Aust Soc Sugar Cane Technol Vol 35 2013 .

BSES bắt đầu tuyển chọn giống Úc có tính kháng bệnh than đen mía ở Indonesia vào năm 1998, một vài tháng sau khi bệnh đã được tìm thấy trong vùng tưới tiêu sông Ord (ORIA) của Tây Úc. Dữ liệu từ các chương trình tuyển chọn cung cấp thông tin quan trọng về tính mẫn cảm của giống mía thương mại Úc đến bệnh than. Sau khi phát hiện bệnh than đen ở Queensland vào năm 2006, BSES khởi động một chương trình sàng lọc bệnh than lớn để thúc đẩy sự phát triển của giống kháng. Kể từ đó, khoảng 10.000 dòng mía từ giai đoạn khác nhau của các chương trình tuyển chọn đã được sàng lọc tính kháng bệnh than đen. Tỷ lệ của dòng vô tính kháng trong các chương trình nhân giống BSES tăng từ 40% lên 68% kể từ năm 2007. Một chiến lược được phát triển để tăng số lượng các dòng vô tính kháng trong các chương trình nhân giống bằng cách không lai với một dòng cha/mẹ có tỷ lệ nhiễm bệnh than đen lớn hơn 6,5. Việc thay thế các giống mẫn cảm bệnh than bằng giống kháng và kháng trung bình trong sản xuất thương mại làm tăng đáng kể trong tất cả các vùng ngoại trừ New South Wales. Sự gia tăng trong khu vực trong sản xuất từ giống kháng và kháng trung bình là 24% đến 64% ở miền Bắc, <10% đến 75% ở Herbert, 65% đến 95% ở Burdekin, 25% đến 72% ở miền Trung, và 21% đến 81% trong khu vực phía Nam. Bốn giống chống chịu bệnh than chiếm ưu thế trong hầu hết các vùng trồng mía Queensland, chiếm khoảng 70% sản lượng. Chúng là Q208A (28%), KQ228A (18%), Q200A (10%) và Q183A (9,5%).

SỰ GIA TĂNG BỆNH THAN VÀ THẤT THU NĂNG SUẤT MÍA (Smut escalation and associated yield losses in a Mackay variety trial)
R.C. MAGAREY, G. PIPERIDIS, D. APPO, J.I. BULL; Proc Aust Soc Sugar Cane Technol Vol 35 2013 .

Bệnh than đen mía là mối quan ngại sâu sắc cho ngành mía Úc. Bệnh chồi cỏ xảy ra trong điều kiện lây lan tự nhiên trong vòng 18 tháng kể từ khi trồng ở giống mẫn cảm Q157 ở quận Mackay. Dữ liệu năng suất cây trồng trong một khảo nghiệm giống cho thấy rằng mía gốc ba, năng suất giống Q157 giảm mạnh xuống <40% so với năng suất vụ tơ. Hầu hết các giống khác hầu như không bị ảnh hưởng bởi bệnh than, mặc dù trong trường hợp lên đến 20% nhiễm bệnh. Một số giống mẫn cảm, chẳng hạn như Q138, tiếp tục cho năng suất khá tốt ngay cả trong sự hiện diện của của bệnh than ở mức thấp .Điều này là do mức độ nghiêm trọng của bệnh không tăng vọt như trong các giống rất mẫn cảm. Giống này có thể vẫn còn khả năng thương mại trong khu vực Mackay nếu cây trồng mới không mang mầm bệnh. Định lượng mức độ nghiêm trọng của bệnh than đen ở cây giống thương mại là dự đoán sản lượng thương mại.

ĐÁNH GIÁ PHÂN BÓN CHẬM TAN Ở VÙNG MÍA HERBERT (An assessment of controlled release fertiliser in the Herbert cane-growing region)
L.P. DI BELLA, S.P. STACEY, A. BENSON, A. ROYLE, G. HOLZBERGER ; Proc Aust Soc Sugar Cane Technol Vol 35 2013

Tổn thất đạm từ các cánh đồng mía là mối quan tâm môi trường nghiêm trọng và cũng là hạn chế sản xuất mía. Thiệt hại có thể cao trong môi trường có lượng mưa cao, nơi nitơ là bị rửa trôi theo dòng chảy bề mặt, trực di và phản nitrát. Các thử nghiệm quy mô lớn đã được thiết lập để so sánh hiệu quả của phân đạm chậm tan có kiểm soát (39-0-0 và 37-0-0) đối với phân urê (46-0-0) trong cây mía được trồng ở thung lũng Herbert. Năng suất mía và CCS được đo đạt trong mía cung cấp cho các nhà máy. Phân đạm chậm tan có kiểm soát hiệu quả đáng kể hơn phân urê 46-0-0 trên cả hai loại đất. Trên đất solodic, phân đạm chậm tan có kiểm soát Agrocote®-N hiệu quả gấp hai lần urê, năng suất mía ở mức 80 kg Agrocote ®-N tương đương với 160 kg urê-N. Trên các loại đất tương tự, phân đạm chậm tan có kiểm soát tăng sản lượng mía đáng kể 10 tấn/ha so với nghiệm thức bón 160 kg urea-N/ha, mức tối đa khuyến cáo. So với urê, Agrocote ® tăng năng suất mía bình quân 4,8 tấn/ha trên đất sét. Không có phản ứng đáng kể về năng suất bởi phân kali chậm tan có kiểm soát. Trong thung lũng Herbert, phân chậm tan là một công cụ hiệu quả để tăng hiệu quả sử dụng N và quản lý rủi ro liên quan đến tổn thất N trong cơn mưa lớn. Phân chậm tan có kiểm soát có thể làm giảm thiệt hại về môi trường và tăng năng suất trong môi trường có lượng mưa cao.

Nguyễn Đại Hương
(Biên dịch và giới thiệu)

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
BÌNH LUẬN

Video
bình luận mới
Đoàn Quang Phong
Gửi TS Đỗ Ngọc Diệp Đọc bài viết của TS tôi rất tâm dắc.Vấn đề cơ gới hoá thu hoạch là khâu cấp thiết giá thành thu hoạch cụ thể giảm chi phí 70000/tấn, tận thu hầu hết nguyên liệu gốc, phần loại bỏ được trả lại cho đất. nói chung máy thu hoạch phải đạt những tính năng như TS đã nêu.Tôi xin giới thiệu với ông mô hình tôi đã mày mò(www.youtube.com/watch?v=N_YppX5wEq4),cần sự cộng tác để hoàn thành. Những bất cập trên mô hình chẳng qua chỉ thiếu vốn đầu tư mà thôi. Tôi mong rằng Viện nghiên cứu qua ông quan tâm. Tôi chỉ là nông dân trồng mía rất nhọc nhằn trong khâu thu hoạch nên quyết tâm suy nghĩ thế thôi. Rất mong được cơ quan, cá nhân có tâm huyết và khả năng tiếp nhân để sản xuất máy công cụ này. Rất mong được trao đổi
Nguyễn Thế Hữu
Chân thành cảm ơn Chú Diệp! Bài viết của Chú rất hữu ích và mang nhiều ý nghĩa thực tế trong ngành trồng mía hiện nay. Chúng cháu kính chúc Chú luôn dồi dào sức khỏe để còn dẫn lối nhiều hơn nữa cho ngành mía đường Việt Nam.
Nguyễn Thế Hữu
Dear quý Anh/Chị đồng nghiệp! Hiện nay tôi đã được 1 người thân giúp đỡ và lấy được những tài liệu dạng fulltext từ tạp chí chuyên xuất bản những nghiên cứu về cây mía "Sugar Tech", Anh/Chị nào cần file fulltext để tham khảo thêm thì liên hệ với tôi qua email: nthuu@hotmail.com hoặc số phone: 0983.832.776 Lưu ý: Anh/chị chỉ cần gửi tên đầy đủ của nghiên cứu qua email. Trân trọng!
Bùi Anh Văn
Gửi anh Đông anh có thể tải về và tham khảo tại đây: http://www.mediafire.com/?b9jl3g7272zh17e http://www.mediafire.com/view/?fr8e2frdhj60l2f
Phan Văn Toàn
Kính gửi Quý Viện Để muốn có các tài liệu nghiên cứu trên phải mua trên mạng với giá 20 - 40 USD, vì vậy Quý Viện có quỹ nào để mua và cung cấp cho đọc giả tham khảo kịp thời các tiến bộ kỹ thuật. Trân trọng cảm ơn! Sugar Tech June 2012 , Volume 14 , Issue 2 , pp 126-133 Wider Row Spacing in Sugarcane: A Socio-economic Performance Analysis T. Rajula Shanthy , GR Muthusamy Purchase on Springer.com $39.95 / €34.95 / £29.95 * * Final gross prices may vary according to local VAT.
Thời tiết
hà nội
Đà Nẵng
tp. HCM
Đồng nai
lịch việt
tỷ giá thế giới
quảng cáo tài trợ
Thống kê
2364
Tổng số khách đã viếng thăm