Đang nạp trang. Vui lòng đợi giây lát!
[31-08-2017] - Thư cảm ơn Dịp Họp mặt kỷ niệm 40 năm thành lập Viện Nghiên cứu Mía đường | [18-07-2017] - ĐỀ CƯƠNG ÔN THI VIÊN CHỨC NĂM 2017 | [10-11-2016] - Thông báo v/v tổ chức lấy ý kiến rộng rãi đóng góp dự thảo “TCVN: Mía giống – Yêu cầu kỹ thuật” | [04-07-2014] - Viện Nghiên cứu Mía đường chính thức ra mắt Ngân hàng kiến thức trồng mía |
Xem TIN TỨC
Bản tin khoa học số 12 tháng 12/2013
Sunday - 22-12-2013 | 08:58:57 PM

KHÍ CO2 PHÁT SINH TRÊN RUỘNG MÍA TẠI BRAZIL
(Fluxes of CO2 above a sugarcane plantation in Brazil)
Osvaldo M.R. Cabral, Humberto R. Rocha, John H. Gash, Marcos A.V. Ligo, Nilza Patrícia Ramos, Ana Paula Packer, Eunice Reis Batista
Agricultural and Forest Meteorology Volumes 182–183, 15 December 2013, Pages 54–66

Khí CO2 phát sinh được quan trắc trên một trang trại mía bằng cách sử dụng phương pháp dòng xoáy hiệp biến trên hai chu kỳ sinh trưởng, đại diện cho tái sinh mía gốc thứ hai và thứ ba thu hoạch bằng việc đốt gốc. Tổng trao đổi hệ sinh thái ròng (net ecosystem exchange-NEE) trong chu kỳ đầu tiên (từ vụ gốc thứ hai, dài 393 ngày) là -1964 ± 44 g C/m2; tổng năng suất của hệ sinh thái (gross ecosystem productivity-GEP) là 3612 ± 46 g C/m2 và hệ sinh thái hô hấp (ecosystem respiration-RE) là 1648 ± 14 g C/m2. NEE và GEP tổng số trong chu kỳ thứ hai (từ gốc thứ ba, dài 374 ngày) giảm tương ứng 51 % và 25% và RE tăng 7%. Carbon thải ra trong quá trình đốt sinh khối và loại bỏ các thân cây khi thu hoạch, cân bằng hệ sinh thái carbon ròng (net ecosystem carbon balance-NECB) tổng số là 102 ± 130 g C/m2 và 403 ± 84 g C/m2 trong mỗi chu kỳ tương ứng. Do đó hệ sinh thái NN mía là khoảng carbon trung hòa trong vụ gốc thứ hai. Năng suất trọng lượng tươi của thân (stalks fresh weight-SFW) đạt mức trung bình của khu vực (8,3 kg SFW/m2). Mặc dù đó là một nguồn carbon thải vào khí quyển, quan sát cho thấy năng suất (6,2 kg SFW/m2) của chồi thứ ba là thấp hơn so với mức trung bình của khu vực 19% do mức nước sẵn có thấp hơn được quan sát trong suốt 120 ngày đầu tiên của chu kỳ tái sinh. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng nước tổng thể (WUE ) đạt được trong chu kỳ đầu tiên (4,3 g C/kg H2O) chỉ giảm 5% trong chu kỳ thứ hai .

PHÂN PHỐI NĂNG ĐỘNG CỦA KALI TRONG MÍA
(Dynamic distribution of potassium in sugarcane)
Nilberto H. Medina, Maíra L.T. Branco, Marcilei A. Guazzelli da Silveira, Roberto Baginski B. Santos
Journal of Environmental Radioactivity Volume 126, December 2013, Pages 172–175

Trong nghiên cứu này sự phân bố của kali trong mía đã được nghiên cứu trong quá trình phát triển của cây. Đất đã được chuẩn bị với phân bón tự nhiên chuẩn bị với bã mía. Để đo nồng độ kali trong từng phần của cây, tia gamma phổ từ được sử dụng để đo tia gamma phát ra từ đồng vị phóng xạ 40K. Hàm lượng kali trong rễ, thân và lá được xác định mỗi 2-3 tháng bắt đầu từ khoảng năm tháng sau khi trồng mía. Kết quả cho thấy nồng độ kali cao vào giai đoạn đầu phát triển của cây và theo thời gian, sự dao động hàm lượng này trong từng phần của cây, đạt nồng độ thấp hơn trong các cây lớn. Để mô tả sự chuyển hóa của phân phối kali trong mía, chúng tôi đề xuất một mô hình hiện tượng giả định rằng tỷ lệ kali kết hợp là tỷ lệ thuận với sự khác biệt giữa nồng độ yếu tố trong cây và một giá trị cân bằng rất lâu dài và nó được kết hợp với một mô hình tăng trưởng nguồn lực hạn chế. Đề xuất mô hình đã thành công trong việc giải thích các kết quả cho sự phân bố kali trong thân và lá trong sự phát triển cây mía.

TÀN DƯ MÍA SAU THU HOẠCH PHÂN HỦY DO NẤM TẠI CHỖ
(Post-harvest sugarcane residue degradation by autochthonous fungi)
< em> Marianela Maza, Hipólito Fernando Pajot, María Julia Amoroso, Marta Graciela Yasem International Biodeterioration & Biodegradation Volume 87, February 2014, Pages 18–25

Một số loài nấm được phân lập từ các nguồn khác nhau: tàn dư mía sau thu hoạch, đất, phân hủy lá rừng và từ sợi nấm thu được từ các bộ phận bên trong của quả thể nấm tươi thu thập trong khu vực Las Yungas (Argentina). Các phân lập lần đầu tiên được sàng lọc cho khả năng sản xuất carboxymethyl cellulose (CMC ) phân hủy và quá trình oxy hóa. Sau khi sàng lọc, mười bảy dòng phân lập được tiếp tục thử nghiệm cho khả năng ligninolytic của chúng bằng cách đánh giá hoạt động polyphenoloxidase, laccase, mangan endoxylanase và peroxidase. Dựa trên các hoạt động lignocellulolytic của chúng, năm dòng phân lập (Bjerkandera sp. Y- HHM2, Phanerochaete sp. Y- RN1, Pleurotus sp. Y- RN3, Hypocrea nigricans SCT- 4.4 và Myrothecium sp. S - 3.20) đã được lựa chọn cho chất lỏng và trạng thái rắn lên men trong môi trường nuôi cấy bao gồm cả xơ bã mía. Sản xuất các enzym lignocellulolytic, giảm khối lượng khô và nồng độ phenol trong phần hòa tan trong nước sau đó đã được đánh giá. Kết quả cho thấy chủng bản địa với hoạt động lignocellulolytic phù hợp với tăng sự phân hủy tàn dư mía sau thu hoạch và hỗ trợ việc sử dụng các chủng nấm như một thay thế cho việc đốt trước và sau thu hoạch. Phương pháp xử lý sinh học sử dụng Phanerochaete sp. Y- RN1 , Pleurotus sp. Y- RN3 và Myrothecium sp. S - 3.20 có thể được sử dụng để làm giảm và tăng khả năng tiếp cận với các thành phần lignocellulose trong tàn dư mía .

GIẢM NGUY CƠ THUỐC DIỆT CỎ CHẢY TRÀN TRONG CANH TÁC MÍA THÔNG QUA GIAO THÔNG ĐIỀU KHIỂN
(Reducing the risk of herbicide runoff in sugarcane farming through controlled traffic and early-banded application)
B. Masters, K. Rohde, N. Gurner, D. Reid Agriculture, Ecosystems & Environment Volume 180, 1 November 2013, Pages 29–39

Di chuyển off-site của các hóa chất nông nghiệp, chẳng hạn như thuốc diệt cỏ, vào nước ngầm và hệ sinh thái biển là một mối quan tâm trên toàn thế giới. Việc áp dụng các biện pháp quản lý trang trại để giảm thiểu vận chuyển thuốc diệt cỏ trong dòng chảy nước mưa là một ưu tiên cho ngành công nghiệp mía Úc, đặc biệt là ở các lưu vực ven biển chảy vào các di sản thế giới Great Barrier Reef (GBR). Trong nghiên cứu này, thuốc diệt cỏ còn lại theo dòng chảy và xâm nhập được đo bằng một mô phỏng lượng mưa trong một thử nghiệm nhân rộng trên đất Chromosol nâu với 90-100% mía phủ tàn dư trong khu vực Mackay Whitsunday, Queensland. Phương pháp xử lý bao gồm hàng đơn thông thường 1,5 m (CONV) và khoảng cách hàng 2 m, giao thông kiểm soát với các hàng mía kép (0,8 m ngoài) (2mCT). Mục đích là để mô phỏng các tác động bằng cơn mưa đầu tiên sau khi xử lý thuốc ức chế quang hợp (PSII) ametryn, atrazine, diuron và hexazinone, bằng cách phun trùm (độ bao phủ 100% , trên luống và rãnh ) và phun theo băng (50-60%, trên luống). Những tác động này bao gồm mưa lớn 1 ngày sau khi phun thuốc diệt cỏ, được coi là một trường hợp xấu nhất, hoặc 21 ngày sau khi phun. Ở nghiệm thức 2mCT ít dòng chảy (38%) có ý nghĩa (P <0,05) và tỷ lệ dòng chảy thấp hơn đỉnh cao (43 %) so với hàng CONV cho một lượng mưa trung bình của 93 mm là 100 mm/h. Ngoài ra, tỷ lệ xâm nhập cuối cùng là cao hơn tương ứng ở NT 2mCT hơn NT CONV, với 72 và 52 mm/h. Điều này dẫn đến giảm tương ứng 60, 55, 47, và 48% cho ametryn , atrazine , diuron và hexazinone từ hàng 2mCT. Thuốc diệt cỏ bị trôi trong dòng chảy cũng giảm được 32-42 % khi phun theo băng hơn là phu trùm. Khi lượng mưa được thực nghiệm 1 ngày sau khi phun, một tỷ lệ lớn chất diệt cỏ bị rửa trôi. Tuy nhiên, thực nghiệm mưa sau21 ngày, nồng độ dư lượng thuốc diệt cỏ trên tàn dư mía thấp hơn và khả năng chống rửa trôi. Do đó, nồng độ trung bình ametryn và atrazine trong dòng chảy là khoảng 8 lần thấp hơn vào ngày thứ 21 so với ngày 1, trong khi diuron và hexazinone chỉ 1,6-1,9 lần thấp hơn đã cho thấy sự duy trì lâu hơn các hóa chất này. Nói chung, đó là sự kết hợp của áp dụng sớm, theo băng và giao thông kiểm soát đó là hiệu quả nhất trong việc giảm thiệt hại trong thuốc diệt cỏ trôi theo dòng chảy.

NGUYỄN ĐẠI HƯƠNG
(Biên dịch và giới thiệu)

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
BÌNH LUẬN

Video
bình luận mới
Đoàn Quang Phong
Gửi TS Đỗ Ngọc Diệp Đọc bài viết của TS tôi rất tâm dắc.Vấn đề cơ gới hoá thu hoạch là khâu cấp thiết giá thành thu hoạch cụ thể giảm chi phí 70000/tấn, tận thu hầu hết nguyên liệu gốc, phần loại bỏ được trả lại cho đất. nói chung máy thu hoạch phải đạt những tính năng như TS đã nêu.Tôi xin giới thiệu với ông mô hình tôi đã mày mò(www.youtube.com/watch?v=N_YppX5wEq4),cần sự cộng tác để hoàn thành. Những bất cập trên mô hình chẳng qua chỉ thiếu vốn đầu tư mà thôi. Tôi mong rằng Viện nghiên cứu qua ông quan tâm. Tôi chỉ là nông dân trồng mía rất nhọc nhằn trong khâu thu hoạch nên quyết tâm suy nghĩ thế thôi. Rất mong được cơ quan, cá nhân có tâm huyết và khả năng tiếp nhân để sản xuất máy công cụ này. Rất mong được trao đổi
Nguyễn Thế Hữu
Chân thành cảm ơn Chú Diệp! Bài viết của Chú rất hữu ích và mang nhiều ý nghĩa thực tế trong ngành trồng mía hiện nay. Chúng cháu kính chúc Chú luôn dồi dào sức khỏe để còn dẫn lối nhiều hơn nữa cho ngành mía đường Việt Nam.
Nguyễn Thế Hữu
Dear quý Anh/Chị đồng nghiệp! Hiện nay tôi đã được 1 người thân giúp đỡ và lấy được những tài liệu dạng fulltext từ tạp chí chuyên xuất bản những nghiên cứu về cây mía "Sugar Tech", Anh/Chị nào cần file fulltext để tham khảo thêm thì liên hệ với tôi qua email: nthuu@hotmail.com hoặc số phone: 0983.832.776 Lưu ý: Anh/chị chỉ cần gửi tên đầy đủ của nghiên cứu qua email. Trân trọng!
Bùi Anh Văn
Gửi anh Đông anh có thể tải về và tham khảo tại đây: http://www.mediafire.com/?b9jl3g7272zh17e http://www.mediafire.com/view/?fr8e2frdhj60l2f
Phan Văn Toàn
Kính gửi Quý Viện Để muốn có các tài liệu nghiên cứu trên phải mua trên mạng với giá 20 - 40 USD, vì vậy Quý Viện có quỹ nào để mua và cung cấp cho đọc giả tham khảo kịp thời các tiến bộ kỹ thuật. Trân trọng cảm ơn! Sugar Tech June 2012 , Volume 14 , Issue 2 , pp 126-133 Wider Row Spacing in Sugarcane: A Socio-economic Performance Analysis T. Rajula Shanthy , GR Muthusamy Purchase on Springer.com $39.95 / €34.95 / £29.95 * * Final gross prices may vary according to local VAT.
Thời tiết
hà nội
Đà Nẵng
tp. HCM
Đồng nai
lịch việt
tỷ giá thế giới
quảng cáo tài trợ
Thống kê
2369
Tổng số khách đã viếng thăm