Đang nạp trang. Vui lòng đợi giây lát!
[31-08-2017] - Thư cảm ơn Dịp Họp mặt kỷ niệm 40 năm thành lập Viện Nghiên cứu Mía đường | [18-07-2017] - ĐỀ CƯƠNG ÔN THI VIÊN CHỨC NĂM 2017 | [10-11-2016] - Thông báo v/v tổ chức lấy ý kiến rộng rãi đóng góp dự thảo “TCVN: Mía giống – Yêu cầu kỹ thuật” | [04-07-2014] - Viện Nghiên cứu Mía đường chính thức ra mắt Ngân hàng kiến thức trồng mía |
Xem TIN TỨC
Bản tin khoa học số 8 (tháng 7/2013)
Saturday - 27-07-2013 | 08:29:02 AM

SẢN XUẤT NĂNG LƯỢNG TỪ SINH KHỐI (BÀI 3): KỸ THUẬT KHÍ HÓA
(Energy production from biomass (part 3): gasification technologies)
Peter McKendry Bioresource Technology Volume 83, Issue 1, May 2002, Pages 55–63 http://dx.doi.org/10.1016/S0960-8524(01)00120-1,

Việc chuyển đổi của sinh khối bởi quá trình khí hóa thành một nhiên liệu thích hợp cho sử dụng trong một động cơ khí đốt làm tăng rất nhiều tính hữu ích tiềm năng của sinh khối như một nguồn tài nguyên tái tạo. Quá trình khí hóa là một công nghệ đã được chứng minh mạnh mẽ rằng có thể được vận hành như một hệ thống đơn giản, công nghệ thấp dựa trên khí hóa cố định hoặc như một hệ thống tinh vi hơn sử dụng công nghệ tầng sôi. Các tính chất của nguyên liệu sinh khối và sự chuẩn bị là thông số thiết kế quan trọng khi lựa chọn các hệ thống khí hóa. Phát điện sử dụng một động cơ khí đốt sử dụng khí đốt sản xuất bởi các quá trình khí hóa sinh khối chất xanh là thể hiện sự công bằng đối với cả thế giới phát triển (như một phương tiện của việc giảm phát thải khí hiệu ứng nhà kính bằng cách thay thế nhiên liệu hóa thạch) và thế giới đang phát triển (bằng cách cung cấp điện trong khu vực nông thôn có nguồn gốc từ sinh khối truyền thống).

NĂNG SUẤT, HẤP THỤ CÁC CHẤT DINH DƯỠNG VÀ TRẠNG THÁI DINH DƯỠNG ĐẤT TRONG PHƯƠNG PHÁP CẢI TIẾN CỦA RÃNH TRỒNG MÍA
(Productivity, Uptake of Nutrients and Soil Fertility Status under Modified Trench Method of Sugarcane Planting)
A. K. Singh, S. N. Singh, A. K. Rao, Arun Kumar in Sugar Tech June 2013, Volume 15, Issue 2, pp 219-222

Một thí nghiệm thực địa đã được tiến hành tại trang trại nghiên cứu của Hội đồng Nghiên cứu Mía, Shahjahanpur, Ấn Độ trong hai năm liên tiếp trong mùa mùa thu của năm 2007-2009 và 2008-2010 để so sánh các phương pháp cải tiến của rãnh trồng mía với các phương pháp trồng phổ biến khác cho tiềm năng sản xuất và hấp thu các chất dinh dưỡng và tình trạng màu mỡ của đất. Thí nghiệm bao gồm năm nghiệm thức với 5 phương pháp trồng. Trồng luống cày thông thường khoảng cách 90 cm (T1), trồng rãnh sâu (20 cm) khoảng cách hàng 90 cm phủ hom với lớp đất 2,5 cm (T2), kết hợp trồng luống cày hàng kép khoảng cách 120:60:120 cm (T3), kết hợp hàng rãnh sâu (20 cm) hàng kép 120:60:120 cm phủ hom với lớp đất 2,5 cm (T4) và trồng rãnh cải tiến khoảng cách 120 cm bao phủ hom với lớp đất 2,5 cm (T5) đã được thiết kế khối ngẫu nhiên với năm lần nhắc lại. Kết quả thử nghiệm cho thấy sản lượng mía thu được theo phương pháp cải tiến của rãnh trồng cao hơn là 18.72, 23.87, 21.22 và 27,01% so với nghiệm thức T4, T3, T2, và T1, tương ứng. Hấp thu N, P và K cao đáng kể (168,60, 87,31, và 254,46 kg/ha) ở phương pháp cải tiến của rãnh trồng. Tình trạng màu mỡ của đất đất quan sát ban đầu và sau khi thu hoạch vụ mía rõ ràng cho thấy tác động tích cực của phương pháp cải tiến của rãnh trồng trên tình trạng màu mỡ của đất. Do đó, độ phì nhiêu của đất giúp hấp thu các chất dinh dưỡng và phát triển mía tốt hơn, mà cuối cùng dẫn đến năng suất mía cao hơn theo phương pháp cải tiến của rãnh trồng mía.

HIỆU LỰC CỦA QUẢN LÝ CHẤT DINH DƯỠNG TỔNG HỢP TRÊN MÍA, NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG NƯỚC MÍA VÀ ĐỘ PHÌ ĐẤT DỰA TRÊN HỆ THỐNG TRỒNG MÍA
(Effect of Integrated Nutrients Management on Cane Yield, Juice Quality and Soil Fertility Under Sugarcane Based Cropping System)
Vijay Kumar, Mehar Chand in Sugar Tech June 2013, Volume 15, Issue 2, pp 214-218

Hai thí nghiệm đã được thực hiện tại Karnal, Haryana, Ấn Độ trong giai đoạn 2004-2007 về trình tự tơ – gốc - tơ và giai đoạn 2008-2010 trên 2 vụ tơ và gốc. Trong cả hai thí nghiệm, việc bón phân NPK tăng năng suất mía của mía tơ (3,8-7,9%) và mía gốc (4,9-6,2%) so với nghiệm thức bón NP. Sản lượng mía được sản xuất với các nghiệm thức phân chuồng (FYM) + N 1/2 P, bã bùn (PM)/bùn ủ (PMC) + N 1/2 P, FYM + NP, PM/PMC + NP , phân xanh (GM) + NP là ngang bằng với nghiệm thức bón NPK, (sản lượng mía sản xuất với NPK là 83,0, 77,9 và 85,7 tấn / ha tương ứng với tơ – gốc - tơ, 76,3 và 90,4 và tấn/ha tương ứng với tơ và gốc). Những nghiệm thức sản xuất năng suất mía cao hơn ở mía tơ và gốc so với nghiệm thức NP. Các nghiệm thức FYM + NPK hoặc PM / PMC + NPK hoặc GM + NPK sản xuất năng suất mía cao hơn đáng kể (3-5% của mía tơ và 5-8% mía gốc) hơn so với nghiệm thức NPK. Trong cả hai thí nghiệm, việc áp dụng phân bón NPK tăng CCS% ở mía tơ và mía gốc so với nghiệm thức bón NP. Việc áp dụng phân hữu cơ (FYM hoặc PM / PMC hoặc GM) + N 1/2 P hay NP hoặc NPK tăng carbon trong đất (OC%) so với NPK (từ 0,39 đến 0,52% trong thử nghiệm đầu tiên và 0,44 đến 0,48 % trong thử nghiệm thứ hai). Việc bón phân NPK tăng K có sẵn trong đất hơn NP (từ 180 đến 194 kg/ha trong thí nghiệm đầu tiên và 142-150 kg/ha trong thí nghiệm thứ hai). Việc bón phân hữu cơ (FYM hoặc PM ở mức 12,5 tấn/ha) + NPK tăng đáng kể K có sẵn trong đất (từ 180 đến 200 kg/ha trong thí nghiệm đầu tiên và 142 đến 154 kg/ha trong thí nghiệm thứ hai) .

ĐẶC TÍNH CỦA CHỦNG TRICHODERMA TỪ HỆ SINH THÁI CANH TÁC MÍA VÀ TÍNH HIỆU QUẢ CỦA CHÚNG PHÒNG TRỪ COLLETOTRICHUM FALCATUM GÂY THỐI ĐỎ CỦA MÍA
(Characterization of Trichoderma Isolates from Sugarcane Agro-Ecosystem and their Efficacy Against Colletotrichum falcatum Causing Red Rot of Sugarcane)
Deeksha Joshi, S. C. Misra in Sugar Tech June 2013, Volume 15, Issue 2, pp 192-196

Một nghiên cứu được thực hiện với mục đích phân lập và mô tả các chủng Trichoderma từ hệ sinh thái nông nghiệp mía đường và đánh giá tiềm năng của chúng để sản xuất các chất chuyển hóa ức chế trung gian chống lại Colletotrichum falcatum gây thối đỏ mía. Mười chủng Trichoderma được phân lập từ các mẫu đất vùng rễ cây mía, tinh lọc và mô tả đặc điểm hình thái và tăng trưởng của chúng ở nhiệt độ khác nhau. Khác biệt đáng kể đã được quan sát ở tốc độ tăng trưởng và đặc tính khuẩn lạc trong mười chủng nói trên. Tất cả các chủng đã được sàng lọc trong ống nghiệm để sản xuất các chất chuyển hóa dễ bay hơi và không bay hơi ức chế C. falcatum sử dụng đĩa Petri kín để nuôi cấy. Chất chuyển hóa không bay hơi sản sinh bởi Trichoderma đã được tìm thấy có hiệu quả hơn các hợp chất dễ bay hơi trong việc ức chế C. falcatum tăng trưởng với các dich lọc của tám trong số mười chủng thể hiện sự giảm đáng kể C. falcatum tăng trưởng vượt tầm kiểm soát. Hơn nữa, mức độ ức chế cao bởi các dịch lọc của Trichoderma so với các chất chuyển hóa dễ bay hơi. Ức chế tối đa 51,5% ở khuẩn lạc đã được ghi nhận từ dịch lọc của chủng STR-15 trong khi trong trường hợp của các chất chuyển hóa bay hơi ức chế cao nhất quan sát thấy chỉ 14,7% (chủng STr-23). Nghiên cứu này chỉ ra rằng các chất chuyển hóa không bay hơi sản xuất bởi nấm Trichoderma sp. có tiềm năng để ức chế có hiệu quả C. falcatum và cần phải được khảo sát kỹ hơn cho việc quản lý bệnh thối đỏ trên mía.

Nguyễn Đại Hương
(Biên dịch và giới thiệu)

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
BÌNH LUẬN

Video
bình luận mới
Đoàn Quang Phong
Gửi TS Đỗ Ngọc Diệp Đọc bài viết của TS tôi rất tâm dắc.Vấn đề cơ gới hoá thu hoạch là khâu cấp thiết giá thành thu hoạch cụ thể giảm chi phí 70000/tấn, tận thu hầu hết nguyên liệu gốc, phần loại bỏ được trả lại cho đất. nói chung máy thu hoạch phải đạt những tính năng như TS đã nêu.Tôi xin giới thiệu với ông mô hình tôi đã mày mò(www.youtube.com/watch?v=N_YppX5wEq4),cần sự cộng tác để hoàn thành. Những bất cập trên mô hình chẳng qua chỉ thiếu vốn đầu tư mà thôi. Tôi mong rằng Viện nghiên cứu qua ông quan tâm. Tôi chỉ là nông dân trồng mía rất nhọc nhằn trong khâu thu hoạch nên quyết tâm suy nghĩ thế thôi. Rất mong được cơ quan, cá nhân có tâm huyết và khả năng tiếp nhân để sản xuất máy công cụ này. Rất mong được trao đổi
Nguyễn Thế Hữu
Chân thành cảm ơn Chú Diệp! Bài viết của Chú rất hữu ích và mang nhiều ý nghĩa thực tế trong ngành trồng mía hiện nay. Chúng cháu kính chúc Chú luôn dồi dào sức khỏe để còn dẫn lối nhiều hơn nữa cho ngành mía đường Việt Nam.
Nguyễn Thế Hữu
Dear quý Anh/Chị đồng nghiệp! Hiện nay tôi đã được 1 người thân giúp đỡ và lấy được những tài liệu dạng fulltext từ tạp chí chuyên xuất bản những nghiên cứu về cây mía "Sugar Tech", Anh/Chị nào cần file fulltext để tham khảo thêm thì liên hệ với tôi qua email: nthuu@hotmail.com hoặc số phone: 0983.832.776 Lưu ý: Anh/chị chỉ cần gửi tên đầy đủ của nghiên cứu qua email. Trân trọng!
Bùi Anh Văn
Gửi anh Đông anh có thể tải về và tham khảo tại đây: http://www.mediafire.com/?b9jl3g7272zh17e http://www.mediafire.com/view/?fr8e2frdhj60l2f
Phan Văn Toàn
Kính gửi Quý Viện Để muốn có các tài liệu nghiên cứu trên phải mua trên mạng với giá 20 - 40 USD, vì vậy Quý Viện có quỹ nào để mua và cung cấp cho đọc giả tham khảo kịp thời các tiến bộ kỹ thuật. Trân trọng cảm ơn! Sugar Tech June 2012 , Volume 14 , Issue 2 , pp 126-133 Wider Row Spacing in Sugarcane: A Socio-economic Performance Analysis T. Rajula Shanthy , GR Muthusamy Purchase on Springer.com $39.95 / €34.95 / £29.95 * * Final gross prices may vary according to local VAT.
Thời tiết
hà nội
Đà Nẵng
tp. HCM
Đồng nai
lịch việt
tỷ giá thế giới
quảng cáo tài trợ
Thống kê
3566
Tổng số khách đã viếng thăm